Năm nhóm giải pháp nâng giá trị xuất khẩu sầu riêng Việt Nam

Năm nhóm giải pháp nâng giá trị xuất khẩu sầu riêng Việt Nam

Năm nhóm giải pháp nâng giá trị xuất khẩu sầu riêng Việt Nam

Ngày đăng: 04/09/2026

Xuất khẩu sầu riêng trong tám tháng đầu năm 2026 được cơ quan quản lý ước đạt gần 2 tỷ USD. Tại Họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 8 diễn ra ngày 3/9/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nêu năm nhóm giải pháp đối với ngành hàng sầu riêng, gồm mở rộng thị trường, tổ chức lại sản xuất, kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc, đầu tư hạ tầng sau thu hoạch, đồng thời củng cố hệ thống kiểm nghiệm phục vụ xuất khẩu.

Các giải pháp trên là định hướng quản lý được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố tại họp báo. Việc sản xuất, đóng gói và xuất khẩu sầu riêng vẫn phải thực hiện theo pháp luật Việt Nam, nghị định thư song phương và yêu cầu kỹ thuật của từng nước nhập khẩu.

Xuất khẩu tám tháng đạt gần 2 tỷ USD

Theo thông tin công bố ngày 3/9/2026, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng của Việt Nam đã tăng từ 177,7 triệu USD năm 2021 lên khoảng 3,85 tỷ USD năm 2025, chiếm khoảng 45% giá trị xuất khẩu của nhóm hàng rau quả.

Đối với tám tháng đầu năm 2026, Cổng thông tin Bộ Nông nghiệp và Môi trường đưa ra mức ước tính 1,97 tỷ USD, trong khi nội dung họp báo đăng trên Báo Điện tử Chính phủ ghi khoảng 1,95 tỷ USD. Do số liệu còn là ước tính và có chênh lệch giữa hai nguồn chính thức, có thể khái quát rằng xuất khẩu sầu riêng trong tám tháng đầu năm đạt gần 2 tỷ USD. Trong đó, thị trường Trung Quốc đạt khoảng 1,85 tỷ USD và tiếp tục chiếm phần lớn kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này.

Sầu riêng Việt Nam đã được xuất khẩu đến hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tháng 7/2026, Ấn Độ chính thức bổ sung Việt Nam vào danh sách các nước được phép xuất khẩu sầu riêng tươi dùng để tiêu dùng. Quy định này được ban hành tại Thông báo số S.O. 3828(E) ngày 9/7/2026, đăng trên Công báo Ấn Độ ngày 13/7/2026 và có hiệu lực kể từ ngày công bố. Theo thông tin của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, phía Ấn Độ không yêu cầu khai báo kiểm dịch thực vật bổ sung trên giấy chứng nhận kiểm dịch và không đặt ra điều kiện nhập khẩu đặc biệt đối với mặt hàng này.

Tính đến thông tin được công bố ngày 3/9/2026, Việt Nam có 1.599 mã số vùng trồng và 281 cơ sở đóng gói sầu riêng đang hoạt động. Ngày 14/8/2026, Tổng cục Hải quan Trung Quốc phê duyệt bổ sung 401 mã số vùng trồng và 166 mã số cơ sở đóng gói của Việt Nam.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã công bố Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản chính thức hoạt động từ cuối tháng 6/2026 và triển khai từ ngày 1/7/2026. Tại thời điểm công bố, hệ thống đã tích hợp dữ liệu của hơn 18.500 sản phẩm; riêng sầu riêng xuất khẩu có 16 doanh nghiệp tham gia thí điểm và sáu container được xuất khẩu sang Trung Quốc có áp dụng truy xuất nguồn gốc điện tử. Việc triển khai đang tiếp tục được mở rộng đến các doanh nghiệp, hợp tác xã, địa phương và nhóm sản phẩm khác.

Năng lực kiểm nghiệm phục vụ xuất khẩu cũng được bổ sung. Theo nội dung trả lời tại họp báo, phía Trung Quốc đã chấp thuận 52 phòng kiểm nghiệm của Việt Nam. Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đã cập nhật danh sách các phòng kiểm nghiệm chỉ tiêu cadimi và Vàng O trên quả tươi đến ngày 3/9/2026.

Năm nhóm giải pháp đối với ngành hàng sầu riêng

1. Mở rộng thị trường và đa dạng hóa sản phẩm

Bộ Nông nghiệp và Môi trường định hướng tiếp tục đàm phán mở cửa hoặc mở rộng thị phần tại các thị trường như Ấn Độ, Australia và New Zealand. Trong nhóm thị trường này, Ấn Độ đã chính thức cho phép nhập khẩu sầu riêng tươi của Việt Nam từ tháng 7/2026; Australia và New Zealand tiếp tục được xác định là những thị trường cần xúc tiến và đàm phán theo từng loại sản phẩm.

Cùng với xuất khẩu quả tươi, ngành hàng cần phát triển sầu riêng đông lạnh và sản phẩm chế biến phù hợp với yêu cầu của từng nước nhập khẩu. Hoạt động xúc tiến thương mại cần gắn với thông tin về mùa vụ, năng lực cung ứng, quy cách sản phẩm, giá cả, yêu cầu kiểm dịch và hệ thống phân phối tại thị trường đích.

Đối với Trung Quốc, Nghị định thư ký ngày 19/8/2024 cho phép xuất khẩu sầu riêng đông lạnh dưới các dạng quả nguyên quả, sầu riêng xay nhuyễn và cơm sầu riêng. Sản phẩm phải đáp ứng các yêu cầu về nguồn nguyên liệu, cơ sở chế biến, cấp đông, duy trì nhiệt độ, đóng gói, ghi nhãn và kiểm tra tại cửa khẩu nhập khẩu.

2. Tổ chức lại sản xuất và phát triển vùng nguyên liệu

Các địa phương cần rà soát vùng sản xuất dựa trên điều kiện đất đai, nguồn nước, khí hậu, thủy lợi, giao thông và khả năng tiêu thụ. Việc mở rộng diện tích phải xem xét khả năng cấp nước, đặc điểm sinh thái của cây sầu riêng và nhu cầu thực tế của thị trường, hạn chế phát triển tự phát tại những khu vực không bảo đảm điều kiện sản xuất.

Vùng nguyên liệu cần được tổ chức gắn với cơ sở sơ chế, đóng gói, kho lạnh, chế biến và doanh nghiệp tiêu thụ. Quan hệ liên kết giữa hộ sản xuất, hợp tác xã, cơ sở đóng gói và doanh nghiệp xuất khẩu cần xác định rõ trách nhiệm đối với quy trình canh tác, nhật ký sản xuất, chất lượng nguyên liệu, thu mua và cung cấp dữ liệu truy xuất nguồn gốc.

Việc được cấp mã số vùng trồng không làm phát sinh hoặc thay thế quyền sử dụng đất. Theo cơ chế hiện hành, mã số được cấp cho một loại cây trồng xác định theo vị trí của một hoặc nhiều thửa đất; dữ liệu mã số được quản lý tập trung và kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

3. Kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc

Sầu riêng xuất khẩu phải đáp ứng đồng thời quy định của Việt Nam và yêu cầu của nước nhập khẩu. Đối với sầu riêng tươi xuất khẩu sang Trung Quốc, Nghị định thư ký ngày 11/7/2022 yêu cầu vùng trồng và cơ sở đóng gói thực hiện quản lý dịch hại, kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, bảo đảm quy cách đóng gói, duy trì hồ sơ sản xuất và cung cấp thông tin phục vụ truy xuất nguồn gốc.

Thuốc bảo vệ thực vật sử dụng tại vùng trồng phải thuộc danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam, đúng cây trồng, đối tượng phòng trừ, liều lượng và thời gian cách ly; đồng thời sản phẩm sau thu hoạch phải đáp ứng mức giới hạn dư lượng và yêu cầu an toàn thực phẩm của thị trường nhập khẩu. Thông tư số 28/2026/TT-BNNMT ngày 30/6/2026 đã sửa đổi, bổ sung danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép và cấm sử dụng tại Việt Nam, trong đó có bổ sung một số thuốc sử dụng trên sầu riêng.

Dữ liệu truy xuất cần phản ánh được mối liên hệ giữa vùng trồng, lô thu hoạch, cơ sở đóng gói, kết quả kiểm nghiệm và doanh nghiệp xuất khẩu. Hồ sơ phải có khả năng kiểm tra, đối chiếu khi cơ quan quản lý hoặc thị trường nhập khẩu phát hiện lô hàng không đáp ứng yêu cầu.

Việc ứng dụng khoa học và công nghệ nên tập trung vào những nội dung có thể kiểm chứng, như quản lý dịch hại, kiểm soát vật tư đầu vào, cảnh báo nguy cơ dư lượng, bảo quản sau thu hoạch và quản lý dữ liệu theo từng lô sản phẩm.

4. Đầu tư bảo quản, chế biến và logistics

Các vùng sản xuất tập trung cần được bổ sung cơ sở sơ chế, đóng gói, kho lạnh và dây chuyền chế biến phù hợp với sản lượng mùa vụ. Hạ tầng sau thu hoạch có vai trò giảm tỷ lệ hư hỏng, phân loại sản phẩm theo thị trường và kéo dài thời gian tiêu thụ.

Đối với sản phẩm đông lạnh xuất khẩu sang Trung Quốc, quy trình phải đáp ứng yêu cầu của Nghị định thư năm 2024. Sản phẩm được cấp đông ở nhiệt độ âm 35°C hoặc thấp hơn trong ít nhất một giờ cho đến khi nhiệt độ lõi đạt âm 18°C hoặc thấp hơn và phải duy trì nhiệt độ lõi không cao hơn âm 18°C trong quá trình bảo quản, vận chuyển. Cơ sở sản xuất, chế biến và bảo quản cũng phải đáp ứng điều kiện đăng ký đối với doanh nghiệp nước ngoài xuất khẩu thực phẩm vào Trung Quốc.

Bên cạnh kho lạnh và nhà máy chế biến, cần rà soát hạ tầng thủy lợi, đường vận chuyển nội vùng, điểm tập kết, năng lực cấp điện và phương tiện vận tải lạnh. Quy mô đầu tư phải dựa trên sản lượng thực tế và khả năng tiêu thụ, tránh xây dựng cơ sở vượt quá nhu cầu vùng nguyên liệu.

5. Củng cố hệ thống kiểm nghiệm phục vụ xuất khẩu

Mạng lưới phòng kiểm nghiệm cần đáp ứng các chỉ tiêu do thị trường nhập khẩu yêu cầu, trong đó có cadimi, Vàng O, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và các chỉ tiêu an toàn thực phẩm khác. Theo thông tin tại họp báo ngày 3/9/2026, phía Trung Quốc đã chấp thuận 52 phòng kiểm nghiệm của Việt Nam; danh sách phòng kiểm nghiệm cadimi và Vàng O được cơ quan chuyên môn cập nhật cùng ngày.

Các phòng kiểm nghiệm phải duy trì phương pháp phân tích, thiết bị, nhân lực, hệ thống quản lý chất lượng và phạm vi thử nghiệm phù hợp với yêu cầu công nhận. Việc một đơn vị có năng lực phân tích trong nước không mặc nhiên đồng nghĩa với việc kết quả của đơn vị đó được nước nhập khẩu chấp nhận; doanh nghiệp cần kiểm tra danh sách được cơ quan có thẩm quyền công bố tại thời điểm lấy mẫu.

Quy trình lấy mẫu, tiếp nhận mẫu, phân tích, trả kết quả và lưu trữ dữ liệu cần được chuẩn hóa. Thời gian thực hiện và mức phí nên được công khai, đồng thời năng lực tiếp nhận mẫu phải được bố trí phù hợp với mùa thu hoạch để hạn chế tình trạng quá tải.

Lo xuất khẩu sầu riêng... hết thời

 

Quy mô sản xuất và căn cứ pháp lý hiện hành

Năm 2026, diện tích sầu riêng của Việt Nam được ước tính khoảng 200.000 ha, sản lượng khoảng 2,08 triệu tấn. Các vùng sản xuất chính gồm Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.

Đối với thủ tục cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, các văn bản cần áp dụng tại thời điểm rà soát gồm:

  • Nghị định số 38/2026/NĐ-CP ngày 24/1/2026 của Chính phủ quy định về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
  • Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP ngày 31/7/2026 của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày ban hành và được áp dụng đến khi nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 38/2026/NĐ-CP có hiệu lực.
  • Quyết định số 3072/QĐ-BNNMT ngày 4/8/2026 công bố thủ tục hành chính cấp xã về cấp, cấp lại mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói theo Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP.

Theo Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP, hồ sơ được nộp đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia. Trường hợp đăng ký xuất khẩu đến thị trường có yêu cầu về mã số, cấp xã tổ chức kiểm tra việc kê khai và khả năng đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của nước nhập khẩu. Nếu mã số phải được nước nhập khẩu phê duyệt, việc có thông báo cấp mã số trong nước chưa đồng nghĩa với việc vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói đã được phép xuất khẩu sang thị trường đó.

Đối với thị trường Trung Quốc, ngoài pháp luật trong nước, vùng trồng, cơ sở đóng gói, cơ sở chế biến và lô hàng còn phải đáp ứng Nghị định thư đối với sầu riêng tươi năm 2022 hoặc Nghị định thư đối với sầu riêng đông lạnh năm 2024, tùy loại sản phẩm.

Tài liệu tham khảo

  1. Bộ Nông nghiệp và Môi trường, “5 giải pháp thúc đẩy giá trị xuất khẩu sầu riêng”, công bố ngày 3/9/2026.
  2. Báo Điện tử Chính phủ, nội dung Họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 8/2026, phần trả lời của Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp, ngày 3/9/2026.
  3. Chính phủ, Nghị định số 38/2026/NĐ-CP ngày 24/1/2026, quy định về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
  4. Chính phủ, Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP ngày 31/7/2026, quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
  5. Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Quyết định số 3072/QĐ-BNNMT ngày 4/8/2026, công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật.
  6. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Tổng cục Hải quan Trung Quốc, Nghị định thư về yêu cầu kiểm dịch thực vật đối với sầu riêng tươi xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc, ký ngày 11/7/2022.
  7. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Tổng cục Hải quan Trung Quốc, Nghị định thư về yêu cầu kiểm tra, kiểm dịch thực vật và an toàn thực phẩm đối với sầu riêng đông lạnh, ký ngày 19/8/2024.
  8. Chính phủ Ấn Độ, Thông báo số S.O. 3828(E) ngày 9/7/2026, bổ sung Việt Nam vào danh sách quốc gia được phép xuất khẩu sầu riêng tươi vào Ấn Độ; thông tin được Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật công bố ngày 31/7/2026.
  9. Báo Điện tử Chính phủ, “Công bố Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản”, ngày 30/6/2026.
  10. Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Danh sách phòng kiểm nghiệm các chỉ tiêu an toàn thực phẩm cadimi và Vàng O trên quả tươi, cập nhật ngày 3/9/2026.
  11. Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Thông tư số 28/2026/TT-BNNMT ngày 30/6/2026, sửa đổi, bổ sung Thông tư số 75/2025/TT-BNNMT về danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép và cấm sử dụng tại Việt Nam. 

Chúng tôi cam kết không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng, đảm bảo mang lại cho quý đối tác những giải pháp tối ưu và giá trị bền vững. "Chất lượng làm nên uy tín – Tận tâm tạo nên niềm tin"

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Trụ sở chính: - Khu quy hoạch T21, Tổ 17 An Sơn, Phường Xuân Hương - Đà Lạt, Tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam;
- 60 Ngô Tất Tố, phường Lâm Viên - Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam
Điện thoại: 0979.58.38.79
Email: info@iesga.vn
Mã số thuế: 0103152371-003
STK 1176.2156.7979 Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - CN Bảo Lộc

KẾT NỐI VỚI CHÚNG TÔI