Việt Nam tại UNCCD COP17: Hướng tới mở rộng nguồn lực tài chính cho phục hồi rừng và đất đai

Việt Nam tại UNCCD COP17: Hướng tới mở rộng nguồn lực tài chính cho phục hồi rừng và đất đai

Việt Nam tại UNCCD COP17: Hướng tới mở rộng nguồn lực tài chính cho phục hồi rừng và đất đai

Ngày đăng: 03/09/2026

Hội nghị lần thứ 17 các Bên tham gia Công ước Liên hợp quốc về chống sa mạc hóa (UNCCD COP17) diễn ra tại Ulaanbaatar, Mông Cổ từ ngày 17 đến 28/8/2026 với chủ đề “Phục hồi đất đai, Khơi nguồn hy vọng” (Restoring Land. Restoring Hope.). Hội nghị quy tụ đại diện của 197 Bên tham gia Công ước cùng đại diện chính phủ, tổ chức quốc tế, giới khoa học, doanh nghiệp và các nhóm xã hội.

Đoàn Việt Nam tham dự COP17 do ông Nguyễn Văn Diện, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường làm Trưởng đoàn. Các nội dung Việt Nam quan tâm tại Công ước có liên quan đến quản lý đất bền vững, phục hồi rừng, chống suy thoái đất, hạn hán và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Phục hồi đất gắn với bảo vệ và phát triển rừng

Việt Nam tham gia Công ước Liên hợp quốc về chống sa mạc hóa từ năm 1998. Trong quá trình thực hiện Công ước, chống sa mạc hóa và suy thoái đất được đặt trong mối liên hệ với quản lý tài nguyên đất, lâm nghiệp, tài nguyên nước, sản xuất nông nghiệp và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Ngày 31/12/2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 5930/QĐ-BNNMT về Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Chương trình xác định các nhóm nhiệm vụ, giải pháp liên quan đến quản lý, phục hồi đất suy thoái, bảo vệ và phục hồi rừng, sử dụng nước hợp lý, phát triển các mô hình sản xuất thích ứng với điều kiện khô hạn và tăng cường năng lực thực hiện Công ước.

Theo Quyết định số 1106/QĐ-BNNMT ngày 31/3/2026 công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2025, Việt Nam có 14.971.553 ha rừng, trong đó 10.079.366 ha rừng tự nhiên4.892.187 ha rừng trồng. Tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc đạt 42,03%.

Bảo vệ và phục hồi rừng có quan hệ trực tiếp với bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, duy trì khả năng giữ nước và cải thiện điều kiện sinh thái tại các khu vực bị suy thoái. Trong Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa, các giải pháp về quản lý đất, rừng, nước và sản xuất thích ứng được xác định theo điều kiện của từng vùng, trong đó có Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

Carbon rừng cần được lượng hóa bằng dữ liệu và phương pháp phù hợp

Bên cạnh các chức năng về bảo vệ đất, nước và đa dạng sinh học, khả năng hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng hiện được đưa vào các cơ chế giảm phát thải và tài chính carbon.

Diện tích rừng và trữ lượng carbon hiện có phản ánh một phần tiềm năng của tài nguyên rừng, nhưng chưa đồng nghĩa với lượng tín chỉ carbon có thể được cấp hoặc giao dịch. Để xác định kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ carbon rừng, lượng giảm phát thải hoặc tăng hấp thụ phải được xác định theo phạm vi, hoạt động và phương pháp của dự án; thực hiện đo đạc, báo cáo, thẩm định và các thủ tục cấp tín chỉ theo tiêu chuẩn áp dụng.

Hệ thống điều tra, kiểm kê, theo dõi diễn biến và công bố hiện trạng rừng cung cấp một nhóm dữ liệu có thể sử dụng trong quá trình đánh giá và xây dựng dự án carbon rừng. Các dữ liệu này có thể gồm ranh giới, diện tích, trạng thái, trữ lượng, biến động rừng và thông tin quản lý. Tuy nhiên, dữ liệu kiểm kê rừng không phải là tín chỉ carbon và không tự mình xác định số lượng tín chỉ của một khu rừng.

Việc hình thành tín chỉ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tư cách và quyền của chủ thể thực hiện dự án; phạm vi dự án; hoạt động giảm phát thải hoặc tăng hấp thụ; tiêu chuẩn và phương pháp carbon áp dụng; mức tham chiếu hoặc đường cơ sở; kết quả đo đạc và báo cáo; thẩm định; cấp tín chỉ; xử lý nguy cơ rò rỉ, đảo nghịch, tính trùng lặp và các điều kiện pháp lý có liên quan.

Từ ngày 15/7/2026, Nghị định số 180/2026/NĐ-CP ngày 21/5/2026 của Chính phủ quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng có hiệu lực. Nghị định điều chỉnh các nội dung về đối tượng cung ứng và sử dụng dịch vụ; hình thức và mức chi trả; dự án carbon rừng; xác định kết quả giảm phát thải; tín chỉ carbon rừng được cung ứng; trao đổi, chuyển nhượng và quản lý nguồn thu từ dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng.

Theo Nghị định 180/2026/NĐ-CP, chủ rừng được hợp tác, liên kết với tổ chức, cá nhân để thực hiện dự án carbon rừng; xây dựng, đo đạc, báo cáo, thẩm định, cấp tín chỉ carbon rừng và chia sẻ kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng theo quy định của pháp luật.

Việc xây dựng và đăng ký dự án cụ thể còn phải xem xét loại rừng, hình thức sở hữu rừng, chủ thể thực hiện dự án và tiêu chuẩn carbon được lựa chọn. Do đó, việc một tổ chức hoặc cá nhân đang quản lý diện tích rừng chưa đủ để kết luận chủ thể đó có toàn quyền đăng ký, sở hữu hoặc chuyển nhượng tín chỉ carbon phát sinh từ diện tích rừng đó.

Nghị định 180/2026/NĐ-CP cũng quy định việc cung ứng dịch vụ được thực hiện thông qua trao đổi, chuyển nhượng theo hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch carbon. Đáng lưu ý, kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon rừng chỉ được trao đổi, chuyển nhượng sau khi được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác nhận theo quy định.

Đối với giao dịch trên sàn carbon trong nước, việc đăng ký, cấp mã, lưu ký, giao dịch, chuyển quyền sở hữu và thanh toán thực hiện theo Nghị định số 29/2026/NĐ-CP ngày 19/01/2026 của Chính phủ về sàn giao dịch các-bon trong nước, có hiệu lực từ ngày 19/01/2026.

Đối với dự án áp dụng tiêu chuẩn carbon quốc tế và hoạt động trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, các thủ tục tương ứng còn phải thực hiện theo Nghị định số 112/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon, có hiệu lực từ ngày 19/5/2026.

Khung pháp lý chung về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và phát triển thị trường carbon trong nước còn liên quan đến Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 119/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025. Nghị định 119/2025/NĐ-CP bổ sung và điều chỉnh nhiều quy định về giảm nhẹ phát thải, tín chỉ carbon, cơ chế trao đổi, bù trừ và thị trường carbon.

Như vậy, việc có diện tích rừng hoặc xác định được trữ lượng carbon chưa tự động làm phát sinh tín chỉ carbon có thể giao dịch. Khả năng hình thành và cung ứng tín chỉ phải được xem xét trên cơ sở dự án cụ thể, phương pháp áp dụng, kết quả giảm phát thải hoặc tăng hấp thụ được lượng hóa, thẩm định và các thủ tục pháp lý tương ứng.

ERPA Bắc Trung Bộ: từ kết quả giảm phát thải đến nguồn tài chính cho người giữ rừng

Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ (ERPA) là một trường hợp đã được triển khai tại Việt Nam theo cơ chế chi trả dựa trên kết quả.

Trong kỳ báo cáo đầu tiên giai đoạn 2018–2019, Chương trình giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ tạo ra khoảng 16,2 triệu tấn CO₂ tương đương kết quả giảm phát thải đã được xác minh. Con số này cao hơn lượng 10,3 triệu tấn CO₂ tương đương được thỏa thuận ban đầu trong ERPA.

Việt Nam sau đó đã chuyển nhượng tổng cộng 11,3 triệu tấn kết quả giảm phát thải, tạo nguồn thu 56,5 triệu USD. Tài liệu của Quỹ Đối tác Carbon trong Lâm nghiệp (FCPF) năm 2026 xác nhận tổng lượng kết quả giảm phát thải đã chuyển giao và tổng giá trị nguồn thu này.

Cần phân biệt rằng ERPA là cơ chế chi trả và chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, vì vậy khi đề cập trường hợp này nên ưu tiên sử dụng thuật ngữ “kết quả giảm phát thải” thay vì đồng nhất toàn bộ lượng chuyển nhượng theo ERPA với tín chỉ carbon được giao dịch theo mọi cơ chế thị trường.

Nguồn thu từ ERPA được phân bổ cho các địa phương để thực hiện chi trả cho các đối tượng hưởng lợi và các hoạt động quản lý, bảo vệ, phát triển rừng. Theo Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, đến cuối năm 2025, hơn 78.000 hộ gia đình, cá nhân, 1.204 cộng đồng dân cư, 445 UBND xã và 140 chủ rừng là tổ chức đã được hưởng lợi từ nguồn thu ERPA. Nguồn lực này được sử dụng cho phạm vi hơn 2,15 triệu ha rừng tự nhiên tại khu vực Bắc Trung Bộ.

Trường hợp ERPA cho thấy nguồn tài chính dựa trên kết quả giảm phát thải có thể được phân bổ trở lại cho hoạt động bảo vệ rừng và các nhóm tham gia quản lý rừng khi có cơ chế xác định kết quả, xác minh, chuyển nhượng và chia sẻ lợi ích cụ thể.

Từ phục hồi đất đến khả năng tiếp cận nguồn tài chính

UNCCD COP17 dành nhiều nội dung cho phục hồi đất, khả năng chống chịu hạn hán và huy động nguồn lực tài chính cho thực hiện các mục tiêu của Công ước.

Đối với Việt Nam, các chương trình phục hồi đất, phục hồi rừng, bảo vệ nguồn nước, nông lâm kết hợp hoặc cải thiện quản lý rừng có thể được nghiên cứu để tiếp cận các nguồn tài chính phù hợp với từng loại hoạt động.

Riêng đối với tài chính carbon rừng, cần phân biệt giữa giá trị sinh thái của rừng, trữ lượng carbon hiện có, kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon. Đây là những khái niệm có liên quan nhưng không đồng nhất.

Việc xem xét khả năng phát triển một dự án carbon rừng nên bắt đầu từ việc xác định rõ khu vực và chủ thể thực hiện; rà soát hồ sơ đất đai và lâm nghiệp; đánh giá dữ liệu hiện trạng và lịch sử; xác định hoạt động có khả năng tạo ra kết quả giảm phát thải hoặc tăng hấp thụ; lựa chọn tiêu chuẩn và phương pháp phù hợp; sau đó mới có cơ sở đánh giá sản lượng carbon tiềm năng, chi phí thực hiện và khả năng tiếp cận thị trường.

Tài liệu tham khảo chính

  1. UNCCD, 17th session of the Conference of the Parties – COP17, Ulaanbaatar, Mongolia, 17–28/8/2026.
  2. Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, thông tin về Việt Nam tham dự UNCCD COP17.
  3. Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Quyết định số 5930/QĐ-BNNMT ngày 31/12/2025 ban hành Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
  4. Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Quyết định số 1106/QĐ-BNNMT ngày 31/3/2026 công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2025.
  5. Chính phủ, Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022 quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn.
  6. Chính phủ, Nghị định số 119/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP.
  7. Chính phủ, Nghị định số 29/2026/NĐ-CP ngày 19/01/2026 về sàn giao dịch các-bon trong nước.
  8. Chính phủ, Nghị định số 112/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon.
  9. Chính phủ, Nghị định số 180/2026/NĐ-CP ngày 21/5/2026 quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng.
  10. Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, tài liệu và số liệu thực hiện Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ (ERPA).
  11. World Bank, Viet Nam Receives US$51.5 million World Bank Payment for Reducing Emissions Through Forest Preservation, 2024.
  12. Forest Carbon Partnership Facility, tài liệu tổng kết Chương trình ERPA Bắc Trung Bộ, 2026.

Chúng tôi cam kết không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng, đảm bảo mang lại cho quý đối tác những giải pháp tối ưu và giá trị bền vững. "Chất lượng làm nên uy tín – Tận tâm tạo nên niềm tin"

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Trụ sở chính: - Khu quy hoạch T21, Tổ 17 An Sơn, Phường Xuân Hương - Đà Lạt, Tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam;
- 60 Ngô Tất Tố, phường Lâm Viên - Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam
Điện thoại: 0979.58.38.79
Email: info@iesga.vn
Mã số thuế: 0103152371-003
STK 1176.2156.7979 Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - CN Bảo Lộc

KẾT NỐI VỚI CHÚNG TÔI